Nguyễn Sinh Huy

Học thuật
Thân thiện
Nguyễn Sinh Huy

Ông Nguyễn Sinh Huy là một nhà nho yêu nước.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một chí yêu nước Việt Nam thời cận đại: Nguyễn Sinh Huy (1862-1929) một nhà nho, một vị quan yêu nước thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông còn tên Nguyễn Sinh Sắc.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Nguyễn Sinh Huy một trong những nhân vật lịch sử đáng kính của vùng đất Nam Bộ.
    • Cuộc đời sự nghiệp của cụ Nguyễn Sinh Huy gắn liền với tinh thần bất khuất chống thực dân Pháp.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy": Cách gọi tôn kính, nhấn mạnh học vị Phó bảng của ông.

    • Nhân dân Đồng Tháp luôn thành kính nhớ ơn cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy.
  • "Thân sinh Nguyễn Sinh Huy": Cách gọi khi nhắc đến ông với tư cách người sinh thành ra Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    • Thân sinh Nguyễn Sinh Huy đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành.
Biến thể từ gần giống
  • Nguyễn Sinh Sắc (Danh từ riêng): Tên của Nguyễn Sinh Huy.

    • Trong nhiều tài liệu, Nguyễn Sinh Huy còn được ghi với tên Nguyễn Sinh Sắc.
  • Cụ Phó bảng (Danh từ): Danh xưng tôn kính dựa trên học vị của ông.

    • Lăng cụ Phó bảng tại Cao Lãnh một di tích lịch sử quan trọng.
Từ đồng nghĩa
  • Chí Nguyễn Sinh Huy: Nhấn mạnh vai trò người chí lớn nước.
  • Nhà nho yêu nước Nguyễn Sinh Huy: Nhấn mạnh gốc gác nho học tinh thần yêu nước.
Thành ngữ liên quan
  • "Tinh thần Nguyễn Sinh Huy": Thường dùng để chỉ tinh thần yêu nước, khảng khái, bất khuất trước cường quyền, noi gương phẩm chất của cụ.
    • Thanh niên ngày nay cần phát huy tinh thần Nguyễn Sinh Huy trong công cuộc xây dựng đất nước.
Nguyễn Sinh Huy

Ông Nguyễn Sinh Huy là một nhà nho yêu nước.

  1. (1862-1929)
  2. Chí cận đại, tên Sắc, thân sinh Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành - tức Chủ Tịch Hồ Chí Minh), sinh năm 1862 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất năm 1929 tại Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
  3. Năm 1894 đỗ cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng, năm 1902 làm Hành tẩubộ Lễ (Huế), sau thăng Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Trong thời gian làm Tri huyện Bình Khê, nhiều lần ông chống đối viên công sứ Pháp ở Bình Định nên bị chúng cách chức buộc phải định cư vĩnh viễnNam Kỳ. Năm 1927, ông ngụ tại Sài Gòn, sinh sống bằng nghề Đông y thường liên lạc với các chí yêu nước khác đang bị thực dân "an trí" tại các địa phương lân cận như Dương Trạc ở Long Xuyên, HoànhSa Đéc, Nguyễn Quyền ở Bến Tre, Trương Rạch Giá. Năm 1929, ông qua đời tại Cao Lãnh. Phần mộ ông sau năm 1975 được nhân dân tỉnh Đồng Tháp tu bổ, được gọi là Lăng cụ Phó bảng